PDA

Xem toàn bộ phiên bản : Siêu thị đố vui 87 (trò chơi mới: giải ô chữ)



anhhungxadieu
19-09-2005, 11:03 PM
Câch chơi ô chữ này hoàn toàn giống với ô chữ của Đường lên đỉnh Olympia (ăn theo một chút :D )

Sẽ có 5 ô chữ hàng ngang. Giải đúng ô chữ hàng ngang sẽ tìm được chữ cái trong các dâú chấm màu đỏ. Các chữ cái này sẽ có mặt trong từ chìa khóa ở phía dưới. Sắp xếp các chữ cái tìm được trong từ chìa khóa sẽ được một cụm từ có nghĩa.

Giải được 1 ô chữ hàng ngang được 2 hoa. Tìm được từ chìa khóa và nói ý nghĩa của cụm từ đó sẽ được 5 hoa. Sau đây là ô chữ kỳ này

1. 7 chữ cái: Tên bài thơ của nhà thơ Nguyễn Bính được nhạc sĩ Trung Đức phổ nhạc

... ... ... ... ... ... ...

2. 4 chữ cái: Dân tộc này còn có tên gọi khác là Pa Cô, Pa Hi, Ba Hi sống tập trung ở A Lưới (Thừa Thiên Huế) và Hương Hóa (Quảng Trị)

... ... ... ...
3. 7 chữ cái: Bộ phim Ngày lễ thánh được chuyển thể từ tác phẩm văn học này

... ... ... ... ... ... ...

4. 10 chữ cái: Tác giả bức tranh Em Thúy sáng tác năm 1943 trên chất liệu sơn dâù

... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

5. 6 chữ cái: Món ăn này bắt nguồn từ những chuyến đi rừng của người đàn ông với túi gạo mang theo, dao quắm, đá đánh lửa và ống nứa có sẵn trong rừng

... ... ... ... ... ...

Từ chìa khóa gồm 7 chữ cái

... ... ... ... ... ... ...

sgboy
20-09-2005, 01:22 AM
1) CHÂN QUÊ

saodanhxaem
20-09-2005, 08:13 AM
1. CHÂN QUÊ (đồng ý với trả lời của SGB)

2. TÀ ÔI

3. BÃO BIỂN

4. TRẦN VĂN CẨN

5. CƠM LAM


Đến đây ko biết ghép chữ thế nào, bác BỆU chỉ dẫn xem nào

huekhai19
20-09-2005, 11:11 PM
Cụm từ đó là Ô ĂN QUAN. Một trò chơi dân gian.
Được thể hiện trên bức tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh -1931

anhhungxadieu
21-09-2005, 08:07 PM
Xin chúc mừng huekhai19, đáp án hòan toàn chính xác =D>

anhhungxadieu
24-09-2005, 08:36 PM
Mời các bạn giải các ô chữ sau đây để tìm ra từ chìa khóa lần này.

1. 8 chữ cái: Tên nhân vật nữ duy nhất trong Tứ bất tử của người Việt

... ... ... ... ... ... ... ...

2. 6 chữ cái: Tên gọi chung những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung Việt Nam

... ... ... ... ... ...

3. 3 chữ cái: Điền một từ vào chỗ trống sau
Nổi danh chùa... làng ta
Có pho Tống Tử Phật Bà Quan Âm

... ... ...

4. 5 chữ cái: Vị vua nhà Nguyễn có Miếu hiệu là Dực Tông Anh Hoàng Đế

... ... ... ... ...

5. 7 chữ cái: Người đội viên đâù tiên của Đội nhi đồng cứu quốc

... ... ... ... ... ... ...

Từ chìa khóa lần này: 8 chữ cái

... ... ... ... ... ... ... ...

Hãy cho biết ý nghĩa của từ chìa khóa.

boylikeboy
24-09-2005, 09:10 PM
2- BẢN ĐỊA

5- KIM ĐỒNG

boylikeboy
24-09-2005, 09:13 PM
1- VÕ THỊ SÁU

boylikeboy
24-09-2005, 09:46 PM
4- Vua TỰ ĐỨC

dung_levn
24-09-2005, 11:59 PM
1. LIEU HANH
2. THUONG
3. MIA
4. TU DUC
5. KIM DONG

I A T H I U K D

Y nghia la Tu Dai Khi, bon bao vat linh thieng cua nguoi Viet (khong co lam), dung khong vay?

anhhungxadieu
25-09-2005, 06:57 AM
boylikeboy đã trả lời đúng câu 4, 5 được 4 hoa
dung_levn trả lời đúng câu 1,2, 3 và từ chìa khóa được 11 hoa.
Lưu ý bạn dung_levn: đây là ô chữ có dâú, lần sau bạn nhớ post bài có dâú nhé.

Ý nghĩa của từ chìa khóa: An Nam Tứ Đại Khí gồm 4 báu vật của nước ta thời Trần gồm: Tháp Báo Thiên, chuông Qui Điền, tượng Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh.

saodanhxaem
26-09-2005, 05:23 PM
boylikeboy đã trả lời đúng câu 4, 5 được 4 hoa
dung_levn trả lời đúng câu 1,2, 3 và từ chìa khóa được 11 hoa.
Lưu ý bạn dung_levn: đây là ô chữ có dâú, lần sau bạn nhớ post bài có dâú nhé.

Ý nghĩa của từ chìa khóa: An Nam Tứ Đại Khí gồm 4 báu vật của nước ta thời Trần gồm: Tháp Báo Thiên, chuông Qui Điền, tượng Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh.


1- Tháp Báo Thiên

Tháp Báo Thiên là một bảo tháp gọi là Ðại Thắng Tư Thiên, xây năm 1057 ở chùa Sùng Khánh, trong phạm vi chùa Báo thiên (nay là khu đất mé đông Hồ hoàn Kiếm). Tháp này cao đến 10 trượng, có tất cả 12 từng, mỗi viên gạch đều có in niên hiệu Long Thụy Thái Bình. Ðến đời Hồ, tháp này đổ mất ngọn. Năm 1427, Lê Lợi làm một cái chòi cao bằng tháp ấy để nhìn vào thành Ðông Ðô của giặc. Sau nhà Tây Sơn dở gạch tháp ấy để xây dựng việc khác.

2- Pho tượng Quỳnh Lâm

Ðây là một pho tượng bằng đồng ở chùa Quỳnh. Báo Ðuốc Tuệ số 77 có bài "Luận về di tích chùa Quỳnh" của Ðồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật, có đoạn: "Cứ trông cái lòng bia cổ cao lớn ở ngoài vườn cửa chùa có chép kích thước và bề cao cái điện che pho tượng ấy, thì chùa Quỳnh để tiếng đến nay không phải là vô cớ. Cái bia đá cao đến 8, 9 thước, xung quanh chạm long ô rất khéo mà đứng giữa trời chịu nắng mưa dầu dãi, nay nét chạm cũng bị tiêu mòn khó nhận như nét chữ trong bia. Song so lời bia với lời tục truyền phù hợp thì đứng ở bến đò Triều mé nam huyện Ðông Triều cách chùa Quỳnh ước 10 dặm, mà còn trông thấy cái nóc điện che sát đầu pho tượng ấy thì biết tượng ấy to hơn tượng Chấn Vũ nhiều."

3- Vạc Phổ Minh

Đúc bằng đồng vào thời vua Trần Nhân Tông (1279-1293) đặt tại chùa Phổ Minh (làng Tức Mặc, Nam Hà). Vạc sâu 6 thước, rộng 10 thước nặng trên 7 tấn (11). Vạc to tới mức có thể nấu được cả một con bò mộng, trẻ con có thể chạy nô đùa trên thành miệng vạc. Đến nay vẫn còn 3 trụ đá kê chân vạc trước sân chùa Phổ Minh.

4- Chuông Quy Ðiền

Một đại hồng chung đúc năm 1080 ở chùa Diên Hựu , Bắc Ninh. Năm 1426, bọn Vương Thông bị Lê Lợi đánh thua ở trận Tụy Ðộng, hết quân khí, mới phá chuông Quy Ðiền va đỉnh Phổ Minh để làm súng đạn.

anhhungxadieu
26-09-2005, 05:38 PM
Cám ơn saodanhxaem đã bổ sung những thông tin hữu ích liên quan đến Tứ đại khí.

anhhungxadieu
04-10-2005, 03:11 PM
Mời các bạn tiếp tục thử sức với ô chữ trí tuệ kỳ này, mỗi ô chữ hàng ngang được 2 hoa, ô chìa khóa được 5 hoa.

1. 6 chữ cái: Sổ sách ghi chép tên tuổi, thân thế của một dòng họ, các thế hệ trong họ và lịch sử tổ tiên

... ... ... ... ... ...

2. 5 chữ cái: Đây được coi như cái nôi của Điện ảnh Cách mạng Việt Nam

... ... ... ... ...

3. 5 chữ cái: Tên một ca khúc của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ thơ Hồ Dzếnh

... ... ... ... ...

4. 4 chữ cái: Tên gọi một loại nhạc cụ dây gâỷ của người Việt. Loại đàn này còn có ở Trung Quốc với tên gọi PiPu, ở Nhật Bản với tên gọi BiWa

... ... ... ...

5. 9 chữ cái: Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự) ở Hà Tây gắn liền với quãng đời sau của vị thiền sư này

... ... ... ... ... ... ... ... ...

Từ chìa khóa: 7 chữ cái.Tên một nhân vật, cho biết đôi nét về nhân vật này.

... ... ... ... ... ... ...

uocmotrongdoi
04-10-2005, 03:47 PM
1. GiaPhả.
2. Đồi Cọ
3. Chiều.
4. TỳBà.
5. Từ Đạo Hạnh
Từ khóa là CAO BIỀN ( ko chắc, vì đâu có biết Cao Biền là ai đâu) :-SS

anhhungxadieu
04-10-2005, 09:06 PM
Bạn uocmotrongdoi đã trả lời đúng 5 ô chữ hàng ngang và tìm được từ chìa khóa, 10 hoa đã được gửi vào tài khoản của bạn.

Bạn nào bổ sung được đôi nét về danh tướng Cao Biền sẽ lĩnh thưởng 5 hoa.

masterb8
05-10-2005, 08:52 AM
Năm Giáp Thân (864). (Đường, năm Hàm Thông thứ 5).

Nhà Đường dùng tổng quản kinh lược sứ Trương Nhân kiêm giữ cả các công việc Giao Châu.

Theo sách Cương mục (Trung Quốc), bấy giờ Nam Chiếu lấn cướp Ung Châu, quan quân nhà Đường thua thiệt nặng. Thừa Huấn mạo nhận có công, được thăng chức Kiểm hiệu Lĩnh Nam tiết độ. Vi Trụ biết rõ việc làm của Thừa Huấn, viết thư trình bày lên tể tướng. Nhà Đường bèn bãi chức Thừa Huấn, dùng Trương Nhân sang thay, và thêm ba vạn năm nghìn quân cho trấn Hải Môn, sai Trương Nhân tiến lấy thành phủ đô hộ.

Tháng 7, mùa thu. Nhà Đường dùng Cao Biền làm đô hộ tổng quản kinh lược chiêu thảo sứ.

Theo sách An Nam kỷ yếu, Trương Nhân dùng dằng không chịu tiến quân Hạ Hầu Ti tiến cử Kiêu Vệ tướng quân Cao Biền sang thay; Trương Nhân giao lại cho Cao Biền tất cả những quân mà Nhân đã coi quản.

Lời chua - Cao Biền: Theo truyện Cao Biền trong Đường thư , Biền, tiểu tự là Thiên Lý, người U Châu, là cháu Sùng Văn, một nhà truyền đời làm quân Cấm Vệ. Cao Biền, từ khi còn nhỏ, rất chịu khó trau giồi về văn học. Giao du với các nho sĩ, Biền bàn luận đường lối chính trị một cách rắn rỏi. Những người trong hai quân Cấm, Vệ lại càng khen ngợi Biền. Biền theo hầu Chu Thúc Minh, làm tư mã . Bấy giờ có hai con chim điêu (thuộc loại chim cắt) đang song song bay với nhau, Cao Biền giương cung định bắn và khấn: "Nếu ta sau này làm nên sang cả, thì bắn trúng nhé!". Khấn rồi bắn một phát trúng cả đôi. Mọi người đều quá đỗi kinh ngạc, nhân thế gọi Biền là Lạc Điêu thị ngự (quan thị ngự bắn rơi chim điêu). Biền làm quan, được thăng dần đến hữu thần sách đô ngu hậu, vì có công, lại được thăng làm phòng ngự sứ Tấn Châu. Hồi Nam Chiếu đánh phá Giao Châu, Biền được cử sang thay Trương Nhân đánh Nam Chiếu.
Hạ Hầu Ti: Theo truyện Lưu Triện , Hạ Hầu Ti tên tự là Hiếu Học, người đất Tiêu thuộc Bạc Châu.
Năm Ất Dậu (865). (Đường, năm Hàm Thông thứ 6).
Tháng 7, mùa thu. Cao Biền tiến quân sang Phong Châu, đánh và phá tan được quân Man.
Theo sách Cương mục (Trung Quốc), Cao Biền đang rèn luyện quân lính ở trấn Hải Môn, chưa tiến quân; giám quân là Lý Duy Chu ghét Biền, muốn hại Biền, nên nhiều lần cứ thúc Biền tiến quân. Biền đem hơn năm nghìn người vượt biển đi trước, hẹn Duy Chu cho quân tiếp ứng viện trợ cho. Khi Biền đem quân đi rồi, Duy Chu giữ chặt quân còn lại, không chịu điều động xuất phát. Tháng chín, quân Cao Biền đến Nam Định, thấy dân Man Phong Châu ngót năm vạn người đang gặt lúa ở đồng ruộng, Biền ập lại đánh tan được, chém được Man tướng là bọn Trương Thuyên, thu lấy lúa của dân đã gặt để làm lương ăn cho quân.
Lời chua - Nam Định: Theo Địa lý chí trong Đường thư , Nam Định đặt năm Vũ Đức thứ 4 (62, thuộc Giao Châu. Theo Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, ở huyện Nam Định có núi Đông Cứu. Theo Thanh nhất thống chí , núi Đông Cựu ở châu Gia Lâm. Nay xét núi Đông Cứu ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, vậy huyện Nam Định phải ở địa giới Gia Lâm và Gia Bình.
Phong Châu: Xem đời Hùng Vương (Tb.I, 2).
Năm Bính Tuất (866). (Đường, năm Hàm Thông thứ 7).
Tháng 4, mùa hạ. Cao Biền đánh lấy lại được thành Giao Châu. Nhà Đường thăng cho Biền lên chức kiểm hiệu Công bộ Thượng thư.
Theo Đường thư , bấy giờ thủ lĩnh man Nam Chiếu tên là Tù Long, bổ Đoàn Tù Thiên làm tiết độ sứ ở Thiện Xiển, sai Dương Tập Tư giúp Tù Thiên sang lấn cướp, cho Phạm Ni Ta làm phủ đô thống, Triệu Nặc Mi làm đô thống ở Phù Da.
Theo sách Cương mục (Trung Quốc), Cao Biền tiến quân thường đánh phá được quân Nam Chiếu. Những tin thắng trận ấy gửi đến trấn Hải Môn đều bị Duy Chu dìm đi cả. Chu lại tâu với vua Đường rằng Biền có ý nuông giặc, không chịu tiến quân. Vua Đường nổi giận, muốn giáng chức Cao Biền, dùng hữu vũ vệ tướng quân Vương Án Quyền sang thay và gọi Biền về triều. Ngày tháng ấy, Biền lại đánh thắng quân Nam Chiếu được một trận lớn, vừa giết vừa bắt được nhiều lắm, rồi bao vây thành Giao Châu đến hơn mười ngày; quân Man bị khốn quẫn lắm. Khi thành sắp sửa bị hạ thì Biền nhận được công văn của Vương Án Quyền cho biết rằng Án Quyền đã cùng với Duy Chu đem đại quân do cửa biển xuất phát rồi. Biền lập tức giao việc quân cho Vi Trọng Tể, rồi cùng với hơn trăm người thủ hạ trở về Bắc. Trước đây, tiểu sứ Vương Tuệ Tán do Trọng Tể sai phái và tiểu hiệu Tăng Cổn do Cao Biền cắt cử, cùng nhau đem thư báo tin thắng trận về tâu với vua Đường. Khi đi trên biển, hai người trông thấy bóng cờ từ phía đông sang, hỏi những thuyền đi biển, họ cho biết đấy là quan kinh lược mới và quan giám quân sang đấy. Hai người bàn nhau: Duy Chu thế nào cũng cướp lấy tờ biểu này của ta. Họ liền cùng nhau trốn vào trong hải đảo, đợi Duy Chu đi khỏi, lập tức lên đường đi gấp về kinh đô. Vua Đường nhận được sớ biểu, mừng lắm, thăng chức cho Cao Biền lên kiểm hiệu Công bộ thượng thư, lại cho trở lại trấn. Bấy giờ, Cao Biền mới đến trấn Hải Môn, lại trở lại. Án Quyền là người mờ tối biếng nhác, Duy Chu là người tàn ác, tham lam, các tướng không ai chịu cộng sự với họ, nên đã bỏ lỏng vòng vây, quân Man trốn thoát mất quá nửa. Cao Biền khi đến nơi, lại đốc thúc tướng sĩ đánh và hạ được thành, chém hơn ba vạn thủ cấp, giết được Tù Thiên và thổ man là Chu Cổ Đạo đã làm người dẫn đường cho quân Nam Chiếu. Quân Nam Chiếu phải chạy trốn. Cao Biền lại phá được hai động thổ mán hùa theo Nam Chiếu và giết những tù trưởng của họ. Các thổ mán khác đem dân chúng đến quy phụ với Cao Bền có tới một vạn bảy nghìn người.
Lời chua - Thiên Xiển: Theo Nam Man truyện trong Đường thư , Thiện Xiển là một kinh đô của nước Nam Chiếu, ở về phía tây bắc Giao Châu.
Phù Da: Theo Thanh nhất thống chí , phủ An Nam đô hộ có huyện Phù Da thuộc châu Vũ Định. Lại theo Vân Nam cổ tích , Vân Nam có thành Phủ Da ở huyện La Thứ.
Tháng 11, mùa đông. Giặc Man đã dẹp yên. Nhà Đường đặt Tĩnh hải quân, dùng Cao Biền làm tiết độ sứ.
Theo sách Cương mục (Trung Quốc), kể từ khi Lý Trác sách nhiễu nhân dân, dân các Man nổi lên gần 10 năm; đến nay mới bình định xong, nhà Đường đặt Tĩnh Hải quân ở An Nam, dùng Cao Biền làm tiết độ sứ. Bắt đầu từ đấy, An Nam đổi tên là Tĩnh Hải quân tiết trấn.
Cao Biền vào ở phủ lỵ, đắp Đại La thành.
Theo sách An Nam kỷ yếu, Cao Biền đắp Đại La thành, và làm ra sổ sách chép rõ bờ cõi, số lính thú trong trấn và các thuế má cống nạp. Người Giao Châu kính sợ Cao Biền, gọi Biền là Cao vương.
Sử cũ chép: La Thành của Cao Biền đắp chu vi một nghìn chín trăm tám mươi hai trượng linh trăm thước (1982 trượng, 5 thước); thân thành cao hai trượng, sáu thước (2 trượng, 6 thước); chân thành rộng hai trượng, năm thước (2 trượng, 5 thước); nữ tường bốn mặt cao năm thước, năm tấc (5 thước 5 tấc); năm mươi nhăm lầu vọng địch; sáu nơi úng môn , ba cái hào nước, ba mươi tư đường đi. Lại còn đắp con đê vòng quanh ngoài thành dài hai nghìn một trăm hai mươi nhăm trượng, tám thước (2125 trượng, 8 thước), đê cao một trượng, năm thước, chân đê rộng hai trượng, và làm hơn bốn mươi vạn gian nhà. Cao Biền đi tuần xem xét đến hai châu Ung, Quảng thấy trên đường biển có nhiều đá mọc ngầm, làm cho việc vận tải lương thực không được thông đồng. Biền sai trưởng sử là Lâm Phúng và Hồ Nam tướng quân là Dư Tồn Cổ đem quân bản bộ và thủy thủ hơn một nghìn người đi khai đào. Lúc đi, Biền có dụ bảo họ rằng: "Đạo trời thường giúp lẽ phải, thần linh hay phò người ngay. Bây giờ đi khai đường biển để giúp đời sống cho nhân dân, nếu ta không vụ lợi riêng thì việc làm có gì là khó?". Lâm Phúng ra đi, khởi công làm việc khơi đục, giữa vời vấp phải có hai hòn đá lớn đằng dăng dài đến mấy trượng, rìu búa đục mãi cũng không ăn thua gì, tự nhiên có sấm sét đánh luôn mấy trăm tiếng: tảng đá lớn đều bị vỡ tan. Về phía tây lại có hai hòn đá lớn mọc sừng sững đối nhau, các thợ đều phải bó tay. Thế rồi lại có sấm sét đánh như trước, làm tan cả ra. Đường biển do đấy mới được thông đồng. Nhân thế gọi tên nơi ấy là Thiên Uy cảng (cảng oai trời).
Lời phê - Nay xét: trong Đường thư, Cao Biền bị liệt vào truyện Bạn thần ; do vì Biền ăn ở hai lòng, nên mắc phải tai vạ, chứ có gì đáng khen! Còn như việc dẹp yên Nam Chiếu chẳng qua chuyên nhờ oai võ mà thắng được chúng đó thôi. Con sông mà Biền đứng đào nay ở vào đâu cũng không biết rõ. Nếu bảo ở tỉnh Nghệ An bây giờ thì vẫn còn nghẽn tắc, nào đã thông suốt được đâu? Lời Sử cũ chép đây so với lời truyện Cao Biền trong Đường thư khen là thần tiên cũng chỉ là một lối hoang đường tầm bậy giống nhau mà thôi. Vậy mà Sử cũ khen việc Biền đào cảng là được trời giúp, tưởng cũng là chuyện nghe theo truyền văn mà vội tin đấy. Lời cẩn án - Đại La ở Long Biên là cái thành do Trương Bá Nghi nhà Đường đã đắp trước, Triệu Xương, Lý Nguyên Gia tiếp tục sửa đắp lại, chứ không phải bắt đầu từ Cao Biền. Sử cũ chép rằng Cao Biền đắp La Thành, làm nhà cửa có tới hơn bốn mươi vạn gian, tưởng cũng là lời truyền văn không đúng sự thực e khó tin được hết cả. Sử cũ lại chép: "Cao Biền đi tuần xem xét Ung Châu và Quảng Châu, khơi thông đường biển, gọi là Thiên Uy cảng". Nay xét Địa lý chí trong Đường thư, ở huyện Bác Bạch có cái ghềnh Bắc thú (Bắc thú than). Khoảng giữa niên hiệu Hàm Thông (860-873) nhà Đường, Cao Biền mộ người đục phẳng những đá mọc ngầm để cho thuyền bè được thông đồng qua lại. Theo Thanh nhất thống chí, huyện Bác Bạch nay thuộc châu Uất Lâm. Vậy thì nơi mà Cao Biền khơi đục không phải ở địa giới nước ta. Có người bảo đó là Thiết Cảng ở Nghệ An, vì nó có tên nữa là Thiên Uy cảng; nhưng không phải. Việc Sử cũ chép đó e cũng không đúng. Nay xin lược bớt, ghi phụ sơ qua ở đây để tiện tham khảo. Lời chua - Đại La Thành: Thành này do Trương Bá Nghi đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 (767) đời Đường; năm Trinh Nguyên thứ 7 (79, Triệu Xương đắp thêm; năm Nguyên Hòa thứ 3 (808), Trương Chu lại sửa đắp lại; năm Trường Khánh thứ 4 (824), Lý Nguyên Gia đời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành; năm Hàm Thông thứ 7 (866), Cao Biền đắp ngoại thành bao quanh "kim thành" , cũng gọi tên là La Thành. Theo Thanh nhất thống chí thành Đại La ở ngoài phủ thành Giao Châu, quận trị Giao Chỉ đời Hán, phủ trị đô hộ đời Đường đều ở đấy. Lâu ngày đổ nát, vết cũ khó xét thấy. Đó tức là những lũy đất ở bốn mặt ngoài tỉnh thành Hà Nội ngày nay. Những thành đất mà các đời Lý, Trần về sau đã sửa đắp nhiều lần, tục cũng gọi là La Thành. Nếu bảo đấy là vết thành cũ của Cao Biền thì thật không đúng. Năm Ất Mùi (875). (Đường, Hi Tông, năm Kiền Phù thứ 2).
Nhà Đường đổi Cao Biền đi làm tiết độ sứ Tây Xuyên, dùng Cao Tầm sang thay.
Theo sách An Nam kỷ yếu , Cao Tầm là cháu họ Cao Biền, đã từng làm tiên phong, xông pha tên đạn, nêu gương mẫu cho các quân sĩ. Cao Biền tiến cử Cao Tầm sang thay cho mình. Vua Đường nghe theo. Cao Biền ở phủ đô hộ tất cả được chín năm.

anhhungxadieu
05-10-2005, 05:41 PM
Cám ơn masterb8 =D> . Mời check lại tài khoản.
Bạn còn nhiều cơ hội lâý hoa của gian hàng này mà. Nhớ ghé ủng hộ thường xuyên nhé @};-

anhhungxadieu
05-10-2005, 06:23 PM
Mời các bạn tiếp tục giải ô chữ. 2 hoa cho 1 từ hàng ngang, 5 hoa cho từ chìa khóa kèm theo đôi nét giới thiệu.

1. 6 chữ cái: Sông Câù, sông Thương, sông Lục Nam hợp nhau lại tại đây để thành sông Thái Bình

... ... ... ... ... ...

2. 8 chữ cái: Tác giả bộ binh thư Hổ trướng khu cơ

... ... ... ... ... ... ... ...

3. 9 chữ cái: Tên một bài hát dành cho thiếu nhi của nhạc sĩ Thập Nhất

... ... ... ... ... ... ... ... ...

4. 6 chữ cái: Tên một bãi tắm nằm dưới chân đèo Lý Hòa, thuộc địa phận xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình

... ... ... ... ... ...

5. 10 chữ cái: Nhân vật trong Truyện Kiều được Nguyễn Du mô tả là "Ghế trên ngồi tót sỗ sàng"

... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

Từ chìa khóa gồm 9 chữ cái. Cho biết ý nghĩa của từ chìa khóa và lịch sử của địa danh này.

... ... ... ... ... ... ... ... ...

saodanhxaem
05-10-2005, 09:18 PM
Mời các bạn tiếp tục giải ô chữ. 2 hoa cho 1 từ hàng ngang, 5 hoa cho từ chìa khóa kèm theo đôi nét giới thiệu.

1. 6 chữ cái: Sông Câù, sông Thương, sông Lục Nam hợp nhau lại tại đây để thành sông Thái Bình

... ... ... ... ... ...

2. 8 chữ cái: Tác giả bộ binh thư Hổ trướng khu cơ

... ... ... ... ... ... ... ...

3. 9 chữ cái: Tên một bài hát dành cho thiếu nhi của nhạc sĩ Thập Nhất

... ... ... ... ... ... ... ... ...

4. 6 chữ cái: Tên một bãi tắm nằm dưới chân đèo Lý Hòa, thuộc địa phận xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình

... ... ... ... ... ...

5. 10 chữ cái: Nhân vật trong Truyện Kiều được Nguyễn Du mô tả là "Ghế trên ngồi tót sỗ sàng"

... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

Từ chìa khóa gồm 9 chữ cái. Cho biết ý nghĩa của từ chìa khóa và lịch sử của địa danh này.

... ... ... ... ... ... ... ... ...

1. P H Ả L Ạ I

2. Đ À O D U Y T Ừ

3. B Ố L À T Ấ T C Ả

4. Đ Á N H Ả Y

5. M Ã G I Á M S I N H

anhhungxadieu
08-10-2005, 10:09 PM
Ô chữ chìa khóa lần này quá khó nên chẳng có ai đoán được, đành phải công bố đáp án vâỵ.

Từ chìa khóa chính là BÃI CÁT DÀI, tên gọi từ thời xưa để chỉ quần đảo Trường Sa ngày nay.
Mời các bạn phục thù ở ô chữ lần sau.

anhhungxadieu
09-10-2005, 09:15 AM
Mời các bạn phục thù với ô chữ lần này. 2 hoa cho mỗi ô hàng ngang, 5 hoa cho từ chìa khóa.

1. 6 chữ cái: Quốc hiệu nước ta dưới thời nhà Hồ

... ... ... ... ... ...

2. 11 chữ cái: tác giả của các truyện như: Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ, An ấp liệt nữ

... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

3. 8 chữ cái: dưới thời vua Hùng, từ này được dùng để chỉ con trai vua

... ... ... ... ... ... ... ...

4. 7 chữ cái: tên viết tắt của Giải thưởng sáng tạo Khoa học công nghệ Việt Nam

... ... ... ... ... ... ...

5. 7 chữ cái: Tên địa đạo ở tỉnh Quảng Trị

... ... ... ... ... ... ...

Từ chìa khóa: 8 chữ cái. Cho biết đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật này

... ... ... ... ... ... ... ...

canmot_niemtin
09-10-2005, 10:17 AM
1. ĐẠI NGU
2. ĐOÀN THỊ ĐIỂM
3. QUAN LANG
4. VIFOTEC
5. VĨNH MỐC

=====> THẠCH LAM

Vài nét về nhà văn Thạch Lam:
Nhà văn Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân. Quê nội làng Cẩm Phô, Hội An, Quảng Nam. Quê ngoại Cẩm Giàng, Hải Dương. Thuở nhỏ, Thạch Lam sống với gia đình ở quê ngoại, sau đó theo cha chuyển sang Thái Bình tiếp tục bậc tiểu học. Lớn lên, ông cùng gia đình chuyển ra Hà Nội, học trường Canh nông, rồi trường Trung học Albert Saraut.

Thạch Lam bắt đầu hoạt động văn học từ 1932, thành viên của Tự lực văn đoàn. Ông tham gia biên tập các tờ tuần báo Phong hóa, Ngày nay. Thạch Lam mất vì bệnh lao năm 1942 tại Hà Nội.

Tác phẩm chính: Các tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942), tiểu thuyết Ngày mới (1939), tập tiểu luận Theo dòng (1941), tập bút ký Hà Nội băm sáu phố phường (1943).

anhhungxadieu
10-10-2005, 09:28 PM
Chúc mừng canmot_niemtin =D> Bạn đã ẵm trọn 15 hoa của ô chữ kỳ này. Mời bạn kiểm tra tài khoản.

anhhungxadieu
20-10-2005, 10:02 PM
Sau một thời gian tạm nghỉ ô chữ trí tuệ lại ra mắt các bạn. 2 hoa cho một từ hàng ngang và 5 hoa cho từ chìa khóa. Nào hãy nhanh thay lĩnh thưởng

1. 7 chữ cái: Y miếu Thăng Long hiện nay ở phố Ngô Sĩ Liên và trong chợ Trần Quí Cáp Hà nội ban đầu thờ ai?

... ... ... ... ... ... ...

2. 4 chữ cái: Cuộc Cách mạng trắng diễn ra ở đất nước này

... ... ... ...

3. 3 chữ cái: Loại chữ viết đầu tiên của dân tộc ta xuất hiện từ thế kỷ 13

... ... ...

4. 6 chữ cái: Tên biển hồ ở tỉnh Gia Lai, còn có tên gọi khác là hồ Ea Nueng

... ... ... ... ... ...

5. 7 chữ cái: Tên phiên âm Hán Việt của Sài Gòn hồi mới khai phá

... ... ... ... ... ... ...

Từ chìa khóa gồm 8 chữ cái. Cho biết đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật này.

... ... ... ... ... ... ... ...

lucky65
21-10-2005, 09:53 AM
2- Ấn độ
3- Chữ Hán Nôm

Nguyen_Lee
21-10-2005, 10:10 AM
1. TUỆ TĨNH
2. ẤN ĐỘ
3. NÔM
4. TƠ NƯNG
5. TÂY CỐNG


Từ hàng ngang: NGÔ TẤT TỐ

Đúng hôn vậy lão ca ca?

Nguyen_Lee
21-10-2005, 10:12 AM
Ngô Tất Tố sinh năm 1894 ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, nay thuộc Bắc Ninh. Làng ông nằm ven bờ sông Đuống, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa. Nhưng trước Cách mạng tháng Tám đây cũng là nơi tồn tại rất nhiều hủ tục nặng nề, là tai họa cho biết bao gia đình nông dân nghèo khổ. Những cảnh tượng thương tâm này đã được Ngô Tất Tố kể lại khá chân thực và sinh động trong tập phóng sự Việc làng của mình.

Từ nhỏ, Ngô Tất Tố đã theo học chữ Nho. Năm Nhâm Tý 1912, ông đã một lần lều chõng thi hương. Năm ất Mão 1915 trong một kỳ thi sát hạch cuối cùng ở Bắc Ninh, Ngô Tất Tố đứng đầu. Bởi thế mà người dân ở làng Lộc Hà vẫn quen gọi ông một cách thân mật là đầu xứ Tố.


Cuộc đời của Ngô Tất Tố là cuộc đời của một nhà văn, nhà giáo nghèo. Năm 1926, Ngô Tất Tố ra Hà Nội làm báo rồi cùng với Tản Đà vào Sài Gòn. Ông đến với mảnh đất phía nam này với biết bao niềm hy vọng và tin tưởng. Nhưng sau gần ba năm ở Sài Gòn, Ngô Tất Tố trở ra Hà Nội vẫn với hai bàn tay trắng.

Ông sinh sống bằng cách viết bài cho các báo : Phổ thông, Tương lai, Công dân, Đông Pháp, Thời vụ, Hà Nội tân văn. . . đây là những năm tháng làm báo hào hứng và sôi nổi nhất của Ngô Tất Tố. Ông viết với nhiều bút danh khác nhau như : Thục Điểu, Lộc Hà, Lộc Đình, Thôn Dân, Phó Chi, Tuệ Nhơn, Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ .v.v... Những bài báo của Ngô Tất Tố đã đề cập những vấn đề thời sự nóng hổi lúc bấy giờ: từ những phong trào mặt trận dân chủ với những cuộc đấu tranh của báo giới đòi tự do ngôn luận, những cuộc biểu tình rầm rộ đón "lao công đại sư" Gô-đa ở các thành phố Bắc Kỳ cho đến những cuộc nổi dậy phá kho thóc địa chủ của hàng nghìn nông dân ở Bạc Liêu, Rạch Giá. Ngòi bút sắc sảo, giàu tính chiến đấu của Ngô Tất Tố cũng dũng cảm vạch mặt lên án nhiều kẻ tai to mặt lớn trong xã hội lúc bấy giờ, nào là Tô-lăng-sô - thủ hiến Bắc Kỳ, Pa-giơ - thống đốc Nam Kỳ, Võ Hiển, Hoàng Trọng Phu, thượng thư Phạm Quỳnh... Trên văn đàn những năm 1936-1939, Ngô Tất Tố liên tục tấn công vào bọn quan lại phong kiến, đặc biệt là nạn quan lại tham nhũng. Những việc làm và thái độ của Ngô Tất Tố đã làm cho bọn thực dân thù ghét. Chúng theo dõi và tìm cách dụ dỗ, mua chuộc ông. Năm 1935, chánh sở mật thám Hà Nội cho gọi Ngô Tất Tố đến để mua chuộc, nhưng ông từ chối. Nhiều lần Ngô Tất Tố bị cấm viết báo và bị trục xuất khỏi Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, không có điều kiện viết những tác phẩm lớn, Ngô Tất Tố đã giành thời gian cho những bài ca dao, những bản diễn ca, những truyện ngắn, các vở chèo để phục vụ kịp thời công tác cách mạng (Vĩnh Thụy ca, Quà tết bộ đội, Buổi chợ trung du, Anh Lộc...). Đặc biệt thời kỳ này, Ngô Tất Tố có nhiều đóng góp to lớn vào công tác dịch thuật. ông là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học Liên Xô (cũ) và Trung Quốc (Trời hửng, Trước lửa chiến đấu, Suối thép, Vấn đề văn nghệ Liên Xô... ). Trong giải thưởng văn nghệ 1951-1952, Ngô Tất Tố được giải ba về dịch các cuốn : Trời hửng (của Vương Lực), Trước lửa chiến đấu (Lưu Bạch Vũ) và giải khuyến khích cho vở chèo mười cảnh do ông viết Quách Thị Tước (sau đổi tên là Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác).

anhhungxadieu
21-10-2005, 10:23 PM
vp1984 được 2 hoa còn mod Nguyen_Lee được 13 hoa. Xin mời check lại tài khoản.

anhhungxadieu
22-10-2005, 09:27 PM
Ô chữ kỳ này gồm 5 từ hàng ngang và 1 từ chìa khóa. 2 hoa cho mỗi từ hàng ngang và 5 hoa cho từ chìa khóa.

1. 5 chữ cái: Đoạn sông Hồng chảy qua Hà nội trước đây có tên là gì?

... ... ... ... ...

2. 8 chữ cái: Loại gió này từ hai khu cao áp ở hai nửa cầu Bắc và Nam thổi về xích đạo

... ... ... ... ... ... ... ...

3. 4 chữ cái: Động Puông, thác Đầu Đằng, Ao Tiên, Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, động Nàng Tiên, thác Nà Đăng là những điểm du lịch trong khu du lịch sinh thái nào.

... ... ... ...

4. 7 chữ cái: Tên trường ca nổi tiếng của dân tộc Gia Rai

... ... ... ... ... ... ...

5. 8 chữ cái: Tên ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Nhất Huy được ca sĩ Thanh Trúc hát trong album chung với ca sĩ Lâm Hùng "Bình yên từ trái tim em"

... ... ... ... ... ... ... ...

Từ chìa khóa gồm 8 chữ cái:

... ... ... ... ... ... ... ...

Cho biết ý nghĩa của từ chìa khóa và những hiểu biết của bạn liên quan đến từ chìa khóa đó.

traithainguyen
25-10-2005, 04:20 AM
1. nhị hà
2.tín phong
3.ba bể
4.xinh nhã
5.thuyền lá
A N O A X H T A

traithainguyen
25-10-2005, 04:36 AM
QDH ui DH nên cho bít thông tin về ô chữ đặc biệt đi
vì nếu ko khó đoán lém :D

anhhungxadieu
25-10-2005, 06:37 AM
Đây là một ô chữ có dấu. Sao em lại bỏ những dấu đi cùng với chữ cái tìm được?

hm74
26-10-2005, 12:35 AM
Bài hát "Tà Áo Xanh" của Đoàn Chuẩn-Từ Linh.
Đoàn Chuẩn, có thể xem ông là đại biểu cuối cùng của dòng nhạc trữ tình lãng mạn, số lượng ca khúc ông sáng tác gồm 17 bài, trong đó có một số bài chưa công bố. Từ thập niên 50, những sáng tác của Đoàn Chuẩn được đề tên Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Có người cho rằng Đoàn Chuẩn - Từ linh chỉ là một. Thật ra, Từ Linh là người bạn thân đã đặt lời cho một số ca khúc của Đoàn Chuẩn, nhưng về sau với tình cảm yêu mến một người bạn, có khi ông sáng tác cả nhạc lẫn lời ông vẫn ghi tên tác giả là Đoàn Chuẩn - Từ Linh.

Ông là một công tử hào hoa, thích chơi xe hơi và có tài viết nhạc. Mặc dầu có thời ông quản lý một nhà hát tại Hà Nội, nhưng đúng hơn, âm nhạc đối với ông là một cái “nghiệp” hơn là “nghề”, ông viết nhạc để trải lòng tâm sự của mình.

Những ca khúc của ông đa số nói về mùa thu - những mùa thu gắn liền với tình yêu. Có người cho rằng những ca khúc của ông là nhật ký của những câu chuyện tình. Thật vậy mỗi một ca khúc của ông đều gắn liền với một mối tình nào đó của chính bản thân. Mặc dầu đã có gia đình, nhưng tâm hồn nhạy cảm của ông luôn rung động trước phái đẹp.

traithainguyen
26-10-2005, 12:57 AM
hiiiiiiiiiiii cho em chơi mấy cái vụ này em chịu
:D

traithainguyen
26-10-2005, 04:46 PM
đề nghị QDH cho thêm thông tin mỗi khi có ô chữ đăch biệt
VD: là tên người, tên bài hát, nhà văn , nhà thơ...như thế dễ thở hơn
chứ như vậy em xin kiếu :D

anhhungxadieu
26-10-2005, 09:19 PM
traithainguyen trả lời được 5 ô hàng ngang được 10 hoa
hm74 trả lời được ô hàng ngang dành 5 hoa
To traithainguyen: từ hàng ngang thường chỉ có <10 chữ cái là dễ lắm rồi, nếu gợi ý thì còn gì là bí mật của ô chữ nữa.

anhhungxadieu
08-11-2005, 10:36 PM
Sau một thời gian vắng bóng, ô chữ trí tuệ đã trở lại cùng các bạn.
Mỗi từ hàng ngang được 2 hoa, tìm được từ chìa khóa được 5 hoa.

1. 7 chữ cái: tên bãi biển ở tỉnh Quảng Trị, được mệnh danh là "nữ hoàng của các bãi tắm"

... ... ... ... ... ... ...

2. 8 chữ cái: Tên bãi biển ở tỉnh Hà Tĩnh

... ... ... ... ... ... ... ...

3. 5 chữ cái: tên vườn quốc gia ở Thanh Hóa

... ... ... ... ...

4. 5 chữ cái: Cù lao Ré thuộc địa phận Quảng Ngãi là tên Nôm của hòn đảo này

... ... ... ... ...

5. 8 chữ cái: Tên vị thuyền trưởng đã chỉ huy con tàu 235 chở vũ khí vào căn cứ Hòn Hèo trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển. Tên anh đã được đặt cho một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

... ... ... ... ... ... ... ...

Từ chìa khóa 10 chữ cái. CHo biết đôi nét về nhân vật được nói đến trong từ chìa khóa

... ... ... ... ... ... ... ... ... ...

hm74
09-11-2005, 12:29 AM
1. Cửa Tùng => C, N
2. Thiên Cầm => H, Ê
3. Bến En => Ế
4. Lý Sơn => L, N
5. Phan Vinh => A, V, I
Đây là nhà thơ CHẾ LAN VIÊN

hm74
09-11-2005, 12:35 AM
Tên thật là: Phan Ngọc Hoan

Bút danh khác: Thạch Hãn, Chàng Văn.

Quê quán: Cam An - Cam Lộ- Quảng Trị. Thời trai trẻ chủ yếu sống ở Quy Nhơn - Bình Định. Có thể xem đây là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.

Cách mạng tháng Tám thành công, Chế Lan Viên đến với cách mạng bằng sự hăng hái nhiệt tình của tuổi trẻ. Ông làm biên tập cho các báo Quyết thắng của Mặt trận Việt minh, báo Cứu quốc, Kháng chiến của liên khu IV. Năm 1949 Chế Lan Viên được kết nạp vào Đảng.

Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học. Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở Phòng Văn nghệ, Ban tuyên huấn Trung Ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học. Từ năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư kí Hội Nhà văn Việt Nam.

Từ sau năm 1975, ông chuyển vào công tác ở thành phố Hồ Chí Minh và qua đời tại đó vào ngày 19 - 6 - 1989.

Ông để lại cho nền văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ :

- Trước Cách mạng tháng Tám :

+ Thơ : Điêu tàn (1937)

+ Văn xuôi : Vàng sao (1942 )

- Sau Cách mạng tháng Tám :

+ Thơ : Gửi các anh (1955), Aùnh sáng và phù sa ( 1960), Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Ngày vĩ đại (1975), Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986), Di cảo thơ I ( 1992), Di cảo thơ II ( 1993), Di cảo thơ III ( 1996).

+ Văn xuôi, tiểu luận, phê bình : Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1966), Nói chuyện văn thơ (1960), Phê bình văn học ( 1962), Vào nghề (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971), Bay theo đường dân tộc đang bay (1977), Từ gác khuê văn đến quán Trung Tân ( 1981), Nghĩ cạnh dòng thơ ( 1982), Ngoại vi thơ (1987).

(Nhưng tại hạ chẳng thích thơ ông tý nào: Thơ trước 45 thì toàn ma, sau 45 thì gà... mờ luôn, đọc nhiều bài cứ đau hết cả đầu. Thơ triết lý mà #-o )

anhhungxadieu
09-11-2005, 09:14 PM
Chúc mừng hm74, bạn đã trả lời hoàn toàn đúng về ô chữ kỳ này =D> . Mời bạn check lại tài khoản.

hm74
09-11-2005, 11:58 PM
Ôi thanks nghen. Vậy mà tại hạ cứ tưởng mỗi chữ cái đựơc 2 hoa

saodanhxaem
10-11-2005, 02:19 PM
Bài hát "Tà Áo Xanh" của Đoàn Chuẩn-Từ Linh.
Đoàn Chuẩn, có thể xem ông là đại biểu cuối cùng của dòng nhạc trữ tình lãng mạn, số lượng ca khúc ông sáng tác gồm 17 bài, trong đó có một số bài chưa công bố. Từ thập niên 50, những sáng tác của Đoàn Chuẩn được đề tên Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Có người cho rằng Đoàn Chuẩn - Từ linh chỉ là một. Thật ra, Từ Linh là người bạn thân đã đặt lời cho một số ca khúc của Đoàn Chuẩn, nhưng về sau với tình cảm yêu mến một người bạn, có khi ông sáng tác cả nhạc lẫn lời ông vẫn ghi tên tác giả là Đoàn Chuẩn - Từ Linh.

Ông là một công tử hào hoa, thích chơi xe hơi và có tài viết nhạc. Mặc dầu có thời ông quản lý một nhà hát tại Hà Nội, nhưng đúng hơn, âm nhạc đối với ông là một cái “nghiệp” hơn là “nghề”, ông viết nhạc để trải lòng tâm sự của mình.

Những ca khúc của ông đa số nói về mùa thu - những mùa thu gắn liền với tình yêu. Có người cho rằng những ca khúc của ông là nhật ký của những câu chuyện tình. Thật vậy mỗi một ca khúc của ông đều gắn liền với một mối tình nào đó của chính bản thân. Mặc dầu đã có gia đình, nhưng tâm hồn nhạy cảm của ông luôn rung động trước phái đẹp.

Bác hm74 biết về nhạc sĩ ĐOÀN CHUẨN nhiều quá. Bái phục.

Bác có thể giải thích rõ "ông là đại biểu cuối cùng của dòng nhạc trữ tình lãng mạn" được chứ ạ. Rất mong được hiểu nhiều hơn về nhạc sĩ này từ bác.


KÍNH

hm74
10-11-2005, 06:36 PM
Không dám nhận lời khen đâu. Đấy là trên mạng viết vậy, tui cũng tìm đọc thì mới biết. Giả sử bây giờ chơi Ai Là Triệu Phú có câu: "Ai là đại biểu cuối cùng của dòng nhạc trữ tình lãng mạn" thì cũng có thể tương đối tự tin mà nói rằng đó là Đoàn Chuẩn. Còn vì sao thì phải tìm hiểu thêm đã.

saodanhxaem
11-11-2005, 07:34 AM
Bây giờ thì không, ông đi về cõi khác rồi.